Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Giữa thời thế Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh quyền lực; quan lại nhiễu nhương, nhân dân đói khổ, tấm lòng những chí sĩ yêu nước liệu có được tự tại? Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm viết bài thơ “Nhàn” nhưng nặng tâm thế của kẻ sĩ phu chẳng hề “nhàn” chút nào. Vậy cái “nhàn” ấy thực chất là gì? Hãy cùng đọc và suy ngẫm.

Trước hết, hai câu thơ đầu tiên khắc họa bức chân dung lão nông dân Nguyễn Bỉnh Khiêm bận rộn với công việc, lấy chuyện làm vườn làm thú vui ngày dài:

“Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Nhịp độ làm việc 2/2/2, “một… một… một…” đều đặn, luôn chân luôn tay không lúc nào như ngơi nghỉ. Công việc lại nhiều không xuể, khi dùng mai, khi tay cuốc, khi câu cá… Trái lại, trong tâm hồn con người thì thảnh thơi “dầu ai”, “vui thú”, “thơ thẩn”. Chân dung nhân vật có sự đối lập giữa bề ngoài bận rộn với tâm hồn vô lo vô nghĩ. Hai câu thơ đã cho thấy cuộc sống con người ung dung tự tại, lối sống tự túc tự cấp và gắn bó hài hòa với thiên nhiên.

Tiếp theo, lão nông ấy cũng có khi rảnh rỗi ngồi triết lí về cuộc đời:

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”

Lão cho rằng bản thân là “dại”, lão chọn nơi vắng vẻ này để sống cuộc sống ẩn dật, cơm canh đạm bạc này là dại dột. Còn kẻ khác, họ “khôn”, họ chọn sống nơi nhộn nhịp, xa hoa. Từ “lao xao” gợi nhắc tới hình ảnh bon chen chợ búa tầm thường, phức tạp cũng là biểu tượng cho đường công danh, lợi lộc. Cách tác giả dùng từ “lao xao” kết hợp với cặp đối lập “ta dại” – “người khôn” như “gài” làm người đọc phân vân quá. Phải chăng ông Nguyễn đang lật ngược ý tứ ban đầu, đúng hơn là đang châm biếm lối sống thực dụng, tham vật chất tầm thường của lũ quan triều đường kia?

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tiếp dòng cuộc sống vui thú, nhàn tản, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Ai nói cuộc sống của lão nông dân nghèo không thanh cao? Cuộc sống quanh năm từ xuân tới hạ, đến thu, về đông rồi lại sang xuân cũng sang lắm. Nào là  được ăn “măng trúc”, ăn “giá”, tắm “hồ sen”, tắm “ao”…. tận hưởng mọi đặc sản, đặc trưng nhất của mỗi mùa. Cũng tương tự như chất thanh tao của Hồ Chí Minh trong những ngày “Tức cảnh Pác Pó”:

Loading...

“Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”

Những câu thơ cuối bài, tứ thơ, hình ảnh thơ nhuốm màu cổ điển:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Những từ Hán  Việt “cội cây”, “phú quý”, “chiêm bao” gợi về điển cố điển tích xưa, nhắc lại thời và thơ của Lý Bạch. Nhà thơ Lý Bạch, Trung Quốc xa xưa luôn khát khao được gửi gắm mảnh hồn nơi niết bàn, tiên cảnh để thả mình cùng trăng, gió, mây trời. Không gian thêm thắt chút ảo ảnh “chiêm bao” và hơi men rượu. Thế giới như chỉ còn hai mảng màu. Bên trên là thi sĩ đang tận hưởng thú vui rất mực thanh tao. Phía dưới là những kẻ đang chạy theo “phú quý”. Tác giả tự cho mình là sang, ngồi trên cao mà khinh bỉ những kẻ đang đeo đuổi công danh, lợi lộc trần tục. Thế mới có cái triết lí tầm phào mà sâu cay mà trước đó thi sĩ đã phát biểu:

“Còn bạc, còn tiền còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu hết ông tôi”
(“Thói đời”)

Hai câu thơ cuối bài “Nhàn” không chỉ cho thấy trí tuệ thông tường, triết lí sống thanh cao mà còn thể hiện cái chất “ngông nghênh” kiêu bạc của đời và thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tóm lại, bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song có nhiều sáng tạo mới mẻ trong ngôn từ và cách thể hiện; giọng thơ đa thanh khi vui vẻ khi triết lí, ngôn ngữ tự nhiên, giản dị… Bài thơ khắc họa bức chân dung tác giả ung dung, tự tại và lấy đó làm cách xử thế đặc biệt trước hiện thực xã hội. Chọn cách sống “nhàn”, quay lưng với chế độ suy đồi, bất công cũng là cách mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đấu tranh, phê phán cái xấu, cái ác. Một nhân cách đáng quý biết bao nhiêu!

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đánh giá bài viết
Loading...

Related Post

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

DMCA.com Protection Status